Thuế

– Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định 91/2022/NĐ-CP sửa đổi Điểm b khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP thì: người nộp thuế không thuộc diện lập báo cáo tài chính quý theo quy định của pháp luật về kế toán căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh quý và các quy định của pháp luật về thuế để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý. Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp của 04 quý không được thấp hơn 80% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm.

  • Trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 04 quý thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 04 đến ngày liền kề trước ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước.
  • Trường hợp doanh nghiệp thuộc trường hợp nêu trên thì doanh nghiệp thực hiện theo quy định nêu trên.
  • Đối với phương pháp tính thuế giá trị gia tăng trực tiếp trên giá trị gia tăng, giá vốn của vàng được xác định trên cơ sở giá mua vào tương ứng, không bắt buộc trùng khớp với giá vàng tại từng thời điểm bán trong ngày. Doanh nghiệp được lựa chọn phương pháp xác định giá vốn phù hợp như bình quân gia quyền theo ngày hoặc nhập trước – xuất trước, với điều kiện áp dụng nhất quán và có sổ sách, chứng từ chứng minh. Trong thực tế ngành vàng, phương pháp bình quân gia quyền theo ngày là cách làm phù hợp nhất khi giá vàng biến động liên tục.

Doanh nghiệp gia công vàng trang sức (nhận vàng của khách để gia công thu tiền công) nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT theo thuế suất 10% (do trong trường hợp này không có giá mua vàng tương ứng nên thuế GTGT tính trên toàn bộ tiền công theo thuế suất 10%) , sử dụng hóa đơn bán hàng điện tử .

Trường hợp doanh nghiệp vừa kinh doanh vàng vừa thực hiện gia công vàng thì phải tách riêng từng hoạt động để tính thuế và xuất hóa đơn. Đối với hoạt động kinh doanh vàng, doanh nghiệp bắt buộc áp dụng thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng và sử dụng hóa đơn bán hàng, không phụ thuộc phương pháp tính thuế GTGT áp dụng cho hoạt động khác. Đối với hoạt động gia công vàng, doanh nghiệp xác định là cung ứng dịch vụ; nếu đăng ký phương pháp khấu trừ thì áp dụng thuế GTGT 10% trên tiền công và sử dụng hóa đơn GTGT, nếu áp dụng phương pháp trực tiếp thì tính thuế GTGT theo tỷ lệ % trên doanh thu dịch vụ và sử dụng hóa đơn bán hàng. Doanh nghiệp phải hạch toán riêng doanh thu, chi phí cho từng hoạt động.

Doanh nghiệp tư nhân chỉ thực hiện gia công vàng bạc trên nguyên liệu do khách hàng cung cấp được xác định là hoạt động cung ứng dịch vụ gia công, không phải kinh doanh vàng. Doanh nghiệp được đăng ký phương pháp khấu trừ và sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT), áp dụng thuế suất GTGT 10% trên tiền công gia công. Giá trị vàng của khách hàng không phải tính thuế GTGT. Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng thuế suất 20% trên lợi nhuận sau khi trừ chi phí hợp lệ.

Thuế GTGT trong ngành vàng là thuế gián thu, người mua chịu, doanh nghiệp nộp thay. Thuế được tính theo phương pháp trực tiếp trên phần giá trị gia tăng. Doanh nghiệp không được khấu trừ thuế GTGT, nhưng số thuế GTGT phải nộp được hạch toán vào chi phí và được tính là chi phí được trừ khi xác định thuế TNDN. Thuế TNDN được tính trên lợi nhuận sau khi đã trừ đầy đủ giá vốn và các chi phí hợp lệ, với thuế suất 20%

error: Content is protected !!